Ngẫm ra, trong số kể trên, chuyện về "Đi đánh Thần Hạn" có vẻ hí hước nhất cho dù nó đầu hàng đến mảng việc mang tính khoa học đòi hỏi sự nghiêm trang, thận trọng.
Giờ thì nhiều người đã biết chuyện nhà thơ Trần Đăng Khoa lên tiếng phàn nàn khi biết tác phẩm "Đi đánh Thần Hạn" mà ông viết từ năm 11 tuổi được liệt vào danh mục truyện dân gian. Sau một dự án nghiên cứu cấp bộ được quốc gia tài trợ kinh phí thực hành, đã được nghiệm thu bởi một hội đồng khoa học hẳn hoi, cuốn "tự vị type truyện dân gian Việt Nam" được NXB cần lao ấn hành, cho ra mắt độc giả năm 2012. Trong công trình nghiên cứu của nhóm biên soạn Viện văn chương Việt Nam, do PGS.TS Nguyễn Thị Huế làm chủ biên, ở mục từ số 8 có giới thiệu truyện dân gian "Đi đánh thần hạn" mà theo Trần Đăng Khoa là có sự trùng về nội dung và tựa đề so với trường ca "Đi đánh Thần Hạn" của ông.
"Đi đánh Thần Hạn" của Trần Đăng Khoa có cách nay hơn bốn chục năm, đã được đăng trên Báo Văn nghệ từ năm 1970 và sau đó NXB Kim Đồng in đi in lại tác phẩm này; truyện dân gian "Đi đánh thần hạn" trong "Từ điển type truyện dân gian Việt Nam" dẫn nguồn từ cuốn "văn chương dân gian Bạc Liêu" (chủ biên: PGS Chu Xuân Diên, NXB Văn nghệ tỉnh thành Hồ Chí Minh - 2005, đến năm 2011 được NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản có bổ sung). Xét về "niên đại" thì hai năm rõ mười là thế, nên dư luận mới "nổi sóng", dẫn đến đánh giá không hay về nhóm soạn. Ý tứ có nhiều, đại loại là nghiên cứu gì mà biến người thật - việc thật thành thứ mang màu sắc “thần thoại”, khoa học gì mà dăm bảy vị giáo sư tiến sĩ xúm vào không phát hiện ra “Đi đánh Thần Hạn” - tác phẩm của một thần đồng thơ mà đến trẻ mươi tuổi đã biết tiếng tăm và tác phẩm thế nào.
Tựu trung, đã có ý ám chỉ nhóm biên soạn là “tiến sĩ, thạc sĩ copy”, công trình nghiên cứu kia đúng là làm tốn tiền của Nhà nước một cách vô ích…
2. Độ ba ngày sau khi Trần Đăng Khoa lên tiếng, vào ngày 24-7-2013, trên trang web của Viện văn chương Việt Nam xuất hiện bài viết của PGS.TS Nguyễn Thị Huế với nhan đề “Đôi lời thưa lại thi sĩ Trần Đăng Khoa và bạn đọc cuốn tự vị type truyện dân gian Việt Nam”, cho đến bữa qua vẫn còn đọc được trên trang điện tử nói trên.
PGS.TS Nguyễn Thị Huế viết, đại ý nguồn tư liệu độc nhất vô nhị được sử dụng là cuốn “văn chương dân gian Bạc Liêu” - do Khoa Ngữ văn và Báo chí Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh thực hành, kết quả của các đợt sưu tầm của 34 lượt giảng sư và 474 lượt sinh viên thực hành trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu (từ ngày 29-10-2002 đến 17-11-2002 và từ ngày 7-4-2003 đến 26-4-2003). Đây chính là nguồn tư liệu mà nhóm đã dùng để biên soạn mục 8 của “tự vị type truyện dân gian Việt Nam”. “Từ khi cuốn sách văn chương dân gian Bạc Liêu được ban bố đến nay đã có một độ lùi về thời kì, không hề có quan điểm phản hồi nào nên chúng tôi hoàn toàn yên tâm dùng những bản kể trong đó. Năm 2011, Văn học dân gian Bạc Liêu được NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản có bổ sung. Truyện Đi đánh thần hạn (từ trang 29 đến trang 31) cũng có nội dung như bản kể năm 2005. Như vậy, về nguyên tắc chúng tôi đã dùng văn bản có xuất xứ, dưới dạng tự sự và đã được công bố, xuất bản… Về phần mình, chúng tôi xin dấn, do chuyên về nghiên cứu văn chương/văn hóa dân gian nên không có điều kiện đọc hết sáng tác văn chương đương đại, trong đó có sử thi - truyện thơ Đi đánh thần hạn. Đây là tội đáng tiếc của nhóm biên soạn, trước tiên là của chủ nhiệm công trình”… “Nhưng, dù muốn hay không, chúng tôi cũng xin thành thật xin lỗi vì sự bất cẩn này (dù rằng, chúng tôi không sai, không vi phạm nguyên tắc soạn công trình theo nguyên tắc folkloer học)” - PGS.TS Nguyễn Thị Huế viết tiếp.
Chuyện vốn đã nhì nhằng, như có nhận xét là “phức tạp hơn cả đạo văn”, đến đây (sau lời xin lỗi kèm sự khẳng định nhóm biên soạn không sai, như đã dẫn) mang màu sắc khác. “Sự bất cẩn” của nhóm soạn và nghiệm thu công trình “tự vị type truyện dân gian Việt Nam” bắt nguồn từ một sự bất cẩn khác - của người biên soạn và người duyệt ấn hành “Văn hóa dân gian Bạc Liêu”. Kết quả của “sự bất cẩn” ấy là gì? Là một ấn bản mang danh “tự vị” - dụng cụ gieo, học tập của rất, rất nhiều người. Là một sản phẩm khoa học tập thể mà liên hệ đến sự xuất hiện của nó có khá nhiều nhà nghiên cứu, giảng sư, sinh viên, bao gồm những nhóm soạn, hội đồng nghiệm thu, biên tập viên NXB… thế mà “sự cố” tồn tại suốt từ năm 2002 đến 2013 này.
Chẳng phải sự thật là thế sao, bất kể thực tại có chuyện dân gian hóa tác phẩm văn chương viết và nhóm biên soạn không có ý “copy”, “dùng chùa”.
3. Rất nhiều đề tài nghiên cứu được thực hành hằng năm nhờ nguồn kinh phí của quốc gia - con số tuyệt đối lớn đến mức mà chỉ riêng khoản kinh phí hoàn trả ngân sách do nơi được phân bổ không bố trí được đề tài nghiên cứu, có năm đã lên đến vài trăm tỷ đồng. Thế nhưng, chuyện đó không quan yếu bằng việc số tiền đã tiêu cho công tác nghiên cứu nói chung hiện đem lại cho xã hội những gì có ích? Liệu có nên duy trì “bầu sữa nghiên cứu” một cách cứng nhắc, hay đã đến lúc nghĩ cách tìm giải pháp đầu tư hiệu quả hơn, thực tại hơn và hạp với bối cảnh nghiên cứu hiện nay?
Phải nói đến “bối cảnh nghiên cứu” là bởi đã có quá nhiều lời ra tiếng vào về sự “phí của” ở địa hạt “sang trọng” là nghiên cứu khoa học. Đề tài nhỏ thì có chuyện “làm cho có”, kết quả khảo sát làm điểm tựa cho kết luận khoa học được thu thập dựa trên bảng hỏi - “truyền đơn” rải trong dài, cơ quan, mặc cho người được hỏi giải đáp thế nào cũng được, nghiêm trang hoặc “cho xong nhiệm vụ thầy cô giao”. Đề tài lớn cũng có chuyện để lại tồn nghi trong kết luận khoa học, “gắp rót” ý tứ của người khác vào công trình của mình. Và, quan trọng nhất là việc xây dựng và thẩm định đề tài nghiên cứu được đăng ký thực hành. Việc ấy hẳn là chưa tốt, bởi có một thực tiễn là nhiều đề tài nghiên cứu được thực hiện rồi… nhập “kho”.
Cũng như nhiều ngành nghề khác, sự yếu kém trong công tác nghiên cứu - phổ quát hay chỉ là thiểu số thì cũng có nguyên nhân từ con người. Từ người duyệt đề tài, người (nhóm) thực hành đề tài đến người (hội đồng) phản biện, nghiệm thu. Cách nay chừng chục năm, người viết từng phải đưa vào chuyên mục “Chuyện nhặt” của Hànôịmới chuyện một tiến sĩ “bê” nguyên tham luận đã in sách từ vài năm trước nộp cho ban tổ chức hội thảo về xây dựng văn hóa người Hà Nội (dùng từ “phải” là vì cũng có phần ái ngại khi đưa chuyện này, không phải ngại cho vị tấn sĩ nọ, mà ngại vì ông là con trai của một nhà nghiên cứu khoa học có nhiều đóng góp cho tầng lớp). Tham luận ấy sau được “đóng quyển” cùng với một số bài khác, của người khác, không rõ sau có in thành sách nữa hay không. Chuyện vừa kể lại, xét cho cùng không khác lắm so với cách xử sự của một đôi nhà nghiên cứu có tiếng. Năm 2000, ban tổ chức chương trình khảo sát văn hóa xuyên Việt do Công ty Toyota tài trợ đã tổ chức hội thảo khoa học ở một tỉnh miền Trung. Đó là lần mà người dự có thể cảm nhận rõ thái độ rẻ rúng đối với hội thảo khoa học “tầm tầm” là như thế nào. Một nhà nghiên cứu có tiếng về văn hóa địa phương, đã nộp một tham luận “không đầu không cuối”, tức là người mới tìm hiểu không thể biết văn hóa đất ấy có “hình dạng” thế nào. Chẳng biết có đúng không nhưng khi ấy, một đại biểu người địa phương đã “mách” (hay bênh?), đại ý vị nọ giỏi lắm, có điều hội thảo “tầm này” thì ông ấy chỉ viết thế thôi, tiền nào của nấy mà.
Cách nay hơn chục năm, trong một lần trả lời phỏng vấn, một vị viện trưởng thuộc khối ngành khoa học xã hội nói với người viết rằng, theo ông, với viện của ông, khoảng lóng ba chục phần trăm kết quả nghiên cứu “đến được nơi cần đến”. Chuyện cũ áp vào ngày nay, có cảm giác về điều người ta hài hước là “nguyễn y vân”. Đời sống vẫn còn bao khoảng trống cần bàn tay nghiên cứu khoa học, nông - công nghiệp, y tế, văn hóa, giáo dục, môi trường đều vậy trong khi các cục, vụ, viện, trường, trung tâm vẫn “đẻ” đề tài sòn sòn, lĩnh tiền Nhà nước đầu tư nghiên cứu ầm ầm, lại năng “phân tích” rằng ngân sách dành cho nghiên cứu mới đạt không phẩy mấy phần trăm GDP, ít ơi là ít, kém xa khu vực, châu lục và thế giới (vẫn có ý này trong báo ngành, hẳn nhiên là ở phần căn do dẫn đến tồn tại).
Xin các nhà khoa học nghiêm trang lượng thứ, nhưng đúng là đã đến lúc bàn nghiêm chỉnh về chuyện nghiên cứu khoa học. Ít nhất thì cũng nên xem lại việc duyệt đề tài, chọn người thực hành, nghiệm thu và phân bổ kinh phí. Có người hiến kế: Nên phân loại đề tài, nghiên cứu căn bản thì quốc gia tương trợ, nghiên cứu ứng dụng hoặc với đề tài có tầm ảnh hưởng hạn chế thì khuyến khích dùng kinh phí từng lớp hóa, hướng đến đích thương nghiệp hóa sản phẩm nghiên cứu - nghĩa là đề tài “xa cuộc sống” không còn thời cơ xuất hiện nữa.
|
No comments:
Post a Comment